Phan Văn Lít
Ý NGHĨA TỪ NGỮ HÒN NON BỘ
Việt Nam hiện nay có 4 từ ngữ: Giả Sơn, Non Bộ, Núi Non Bộ và Hòn Non Bộ để xác định cho đúng danh xưng của thú chơi dùng đá ghép hình núi, trồng cây cỏ và đặt những hòn đá đó trong bể nước . Khi nhìn cảnh ấy giống như một hòn đảo nằm giữa sông, hồ hoặc biển cả.
Giả Sơn là từ Hán Việt có nghĩa là núi giả .
Non Bộ là từ Nôm diễn dịch từ giả sơn là núi giả .
Núi Non Bộ là từ Nôm, chỉ núi non đều đồng nghĩa và cũng là núi giả .
Hòn Non theo Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của là núi giả, núi gắn bằng đá để trước nhà mà chơi .
Năm 1997, 2002 tôi cùng nhà tôi trở lại Việt Nam đi suốt từ Bắc qua Trung và vô Nam để tìm hiểu 4 danh xưng, và nơi mà còn giữ được những cái Hòn Non Bộ vào thế kỷ thứ 10. Tôi đã
Hàng ngàn năm qua, người Việt Nam có tục thờ các thần linh như thần cây, thần núi và thần sông, thần biển . Họ tin tưởng những hang động trong những dãy núi đá có những vị thần linh xây dựng những cung điện nguy nga, và ai đi được vào trong ấy sẽ trường sinh bất tử .
Sau nầy vì cuộc sống, họ phải từ bỏ núi rừng để xuống định cư vùng đồng bằng và để nhớ lại cảnh núi rừng sông biển, họ dùng đá ghép thành Hòn Non Bộ để tiêu khiển và thờ phượng .
Triết lý của người Nhật tỉa cây Bon Sai theo dáng hình tam giác, trên đỉnh gọi là thiên đàng . Cành thấp nhất là đất và cành giữa gọi là người (Thiên, Địa & Nhân). Ngược lại, triết lý Hòn Non Bộ trên đỉnh cao của núi gọi là Thiên tức là thiên nhiên như bầu trời mây, trăng sao ...v..v, chứ không phải Thiên Đàng . Phần núi cây đất nước thì gọi là Địa (đất). Nhân (người) là người sáng tạo Hòn Non Bộ hoặc người đi bộ quanh Hòn Non Bộ để thưởng ngoạn tiêu khiển .
LỊCH SỬ HÒN NON BỘ

Lịch sử Hòn Non Bộ không còn được bao nhiêu sách viết để lại . Hơn nữa, Ông Bà ta thường hay truyền miệng hơn truyền văn mới lưu giữ được muôn đời . Hơn 1 000 năm đô hộ của người phương Bắc, sau đó Việt Pháp chiến tranh, cuộc chiến 30 năm của Quốc Gia và CS ((CộngSản)) đã thiêu hủy rất nhiều nghệ phẩm trong đó có Hòn Non Bộ.
Ngược dòng lịch sử, dân Giao Chỉ đã có tục thờ đá, thờ cây và thờ nước . Điển Hình vào triều đại Hùng Vương trên 4 000 năm qua cũng có truyền thuyết như Trầu Cau, thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh đều có nói đến liên hệ mật thiết giữa cây, đá và nước . Qua các sách Lĩnh Nam Chích Quái, Việt Điện U Linh Tập, Quảng Châu Ký, Giao Châu Ngoại Vực Ký đều có ghi chép sự liên lệ mật thiết giữa cây, đá và nước . Tại Đền Vua Hùng Vương còn có tảng đá thề của vua An Dương Vương dựng nên để "Thề sẽ cúng tế các vua Hùng và tiếp tục sự nghiệp dựng nước và giữ nước".
Tục thờ cây, đá và nước còn lưu giữ ở một số làng quê Bắc Việt, cho mãi tận miền Nam như thờ con chó đá, thờ Thần Cây Đa và thờ Thần dưới sông như Bà Thủy Hà Bá v..v..
Từ nămn 207 trước Tây Lịch cho đến năm 938 sau Tây Lịch, có những Hòn Non Bộ của các đền chùa qua nhiều lần trùng tu và di dời nên không biết rõ niên đại .


Triều Đại Nhà ĐINH (968 - 979)

Vua Đinh Tiên Hoàng có công dẹp loạn 12 sứ quân lên ngôi Hoàng Đế đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (nay thuộc xã Trường Yên, huy ện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình). Các vua Hùng có công dựng nước thì vua Đinh Tiên Hoàng có công củng cố nền độc lập và chủ quyền dân tộc . Khi vua mất, nhân dân nhớ ơn mới lập đền thờ . Trước đền thờ có vườn hoa bên trái là Hòn Non Bộ có dáng "Cửu Long Tranh Châu" (Chín con rồng tranh ngọc), giữa vườn hoa bên phải đền là Hòn Non Bộ có dáng "Hình Nhân Bái Tướng" (Hình người đang cầu nguyện) cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi vì nước Việt Nam là xứ nông nghiệp . Hòn Non Bộ "Cửu Long Tranh Châu" được đặt trong bể nước xây hình 6 cạnh . Hòn Non Bộ "Hình Nhân Bái Tướng" được đặt trong bể nước hình vuông .
Triều Đại Nhà TIỀN LÊ (980 - 1009)
Từ đền vua Đinh đi bộ vài trăm mét là đền vua Lê Đại Hành . Trước cửa Từ Vũ có Hòn Non Bộ bằng đá xanh, nguyên khối khá lớn, có thế "Phương Vũ" (Phượng múa). Phượng cũng biểu tượng cho Hoàng Hậu, nếu nhìn từ phía Bắc giống như chim Phượng đang múa, và nếu nhìn từ phía Tây Nam giống như dáng sư tử . Chân núi được tạo dáng tứ linh: Long Ly Quy Phượng rất đẹp . Hòn Non Bộ được đặt trong bể nước hình 6 cạnh và trên núi có trồng cây Gừa . Phía trước hai nhà Vọng cũng có Hòn Non Bộ có dáng "Phượng Vũ" và "Phượng Ấp".
Triều HẬU LÝ ( 1011 - 1225)
Triều HẬU LÝ ( 1011 - 1225)
Qua sự vận động của Thiền Sư VẠN HẠNH và mưu sự của quan chi hậu Đào Cam Mộc để đưa Điện Tiền Chỉ Huy Sứ LÝ CÔNG UẨN lên ngôi, tức vua Lý Thái Tổ . Ngài cho dời đô từ Hoa Lư về Đại La, về sau vì sự xuất hiện của rồng vàng bên thuyền ngự nên đổi Đại La thành Thăng Long .
Theo Việt Sử Lược trang 78:"Tháng sáu lấy ngày sinh vua làm tiết Thiên Thánh (1028). Xây Vạn Thế Sơn ở Long Trì, có 5 ngọn, ngọn ở giữa dựng bức tranh trường thọ, hai bên tả hữu đều có hạc trắng, trên núi làm thành những hình tiên bay, chim thú, lưng chừng núi lại có thần long vây quấn, cắm cờ, treo vàng ngọc, sai bọn phường tuồng (linh nhi) ở trên núi thổi sáo, ca múa làm vui ...
Cũng trong thời nhà Lý, thú chơi Hòn Non Bộ từ cung đình và đã lan dần ra dân gian . Bộ tiểu thuyết tình cảm Lĩnh Nam Dật Sử của Ma Văn Cao, nguyên bản bằng Mường Ngữ, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đời nhà Trần biên lời tựa và dịch sang Hán Văn năm 1297. Sau này Bùi Đàm chuyển dịch sang Việt Ngữ "Trở lại chuyện Quý Nhi tiến vào trong vườn, thấy một vườn hoa đắp dựa vào núi; dưới núi có một tòa lâu đài nhỏ xung quanh trồng toàn cây có hoa, bên tả là một Hòn Non Bộ, có suối chảy vào thành ao, nước trong suốt như gương, cạnh Hòn Non Bộ có một lối đi quanh có hai bên trồng trúc đào".
Triều Nhà TRẦN (1225 - 1400)
Qua 3 lần xâm lược của giặc Nguyên Mông, Kinh Đô Thăng Long bị tàn phá nặng nề, triều đình bắt các quân dân hàng giặc phải chuyên chở gỗ để chuộc tội và trùng tu lại các cung điện, lầu gác và vườn cảnh.
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II, trang 166, tác giả Ngô Sĩ Liên viết: "Về cuối đời nhà Trần, năm 1363, Trần Dụ Tông đã cho đào hồ ở vườn ngự trong hậu cung, trong hồ xếp đá làm núi, bốn mặt khai ngòi chảy thông nhau . Trên mặt hồ trồng cây Tùng, cây trúc và các thứ hoa quả lạ, lại nuôi chim quý, thú lạ trong ấy".
Nhà Hồ (1400 - 1427), Nhà Hậu Trần (1407 - 1413) và thuộc Nhà Minh ( 1414 - 1427) không thấy ghi lại cây cảnh và Hòn Non Bộ .
Triều HẬU LÊ (1428 - 1788)
Ngày 21-8-1406, vua Minh Thành Tổ đã ra lịnh cho đại tướng Chu Năng Khi cầm quân đến nước Nam, phải lấy hết sách vở đem về
Năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi được sự trợ giúp của Nguyễn Trãi đã khởi nghĩa đánh quân Minh . Sau 10 năm gian khổ, ngài đã quét sạch quân Minh ra khỏi bờ cõi, lên ngôi vua tức Lê Thái Tổ và đổi đế đô Thăng Long thành Đông Đô, đặt Quốc hiệu là Đại Việt (1420). Từ năm 1428 - 1527, nhà vua cho tu sửa lầu gác cùng dinh thự ở trung ương và địa phương . Có 2 công trình lớn nhất là Đông Kinh (Thăng Long cũ) và Lam Kinh (Lam Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa nơi xuất phát cuộc khởi binh của Lê Lợi). Đông Kinh nổi danh với "Vườn Thượng Uyển rộng lớn nuôi cả hươu nai và các muông thú lạ khác" mà các sử gia khen "lộng lẫy hơn xưa".
Trong thời gian (1527 - 1592) do nhà Mạc cướp ngôi không thấy dấu tích Hòn Non Bộ .
Hải Thượng Lãn Ông LÊ HỮU TRÁC (1720 - 1790) ghi trong Thượng Kinh Ký Sự về vườn cảnh trong phủ chúa Trịnh Sâm: "Đi được vài trăm bước, qua mấy lần cửa mới đến cái điếm "Hậu mã quân túc trực". Điếm làm bên một cái hồ, có những cái cây lạ lùng và những hòn đá kỳ lạ"
Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) trong Vũ Trung Tùy Bút cũng có ghi: "chúa Trịnh Vương (Trịnh Sâm), khoảng năm Ất Mùi 1774 - 1775 bắt các quan quân đi tìm các "cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cảnh ở chốn dân gian ... Trong phủ, tùy chỗ điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non".
Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án đã viết trong Tang Thương Ngẫu Lục về chuyện cũ trong Vương phủ qua lời tự thuật của vị quan Nội thị: "Đúng hôm rằm, Chúa ngự ra chơi Bắc cung . Cung nầy là cái ao gọi là Long trì, rộng độ nửa dặm . Giồng nhiều hoa: Hoa sen, hoa súng, v v ... Bên bờ ao đắp đất, chồng đá làm núi, chỗ cao chỗ thấp, dàn đặt mặt trước mặt sau, trông đường nào cũng có thế đẹp"
Các Hòn Non Bộ và Cây Cảnh trong phủ chúa Trịnh không còn lưu lại cho ngày nay.
Nhà Tây Sơn (1788 -1802) cũng không còn để lại dấu tích Hòn Non Bộ .
Triều Nhà NGUYỄN (1802 - 1945)

Khi vua Gia Long thống nhất đất nước thì nhiều luật lệ
Danh từ Cây Cảnh có trước lâu đời nhưng bị đọc trại thành Cây Kiểng vì Cảnh trùng tên Hoàng Tử Cảnh . Cũng có truyền thuyết nói năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu cử Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh (đến đời Gia Long bị đổi tên thành Nguyễn Hữu Kính vì trùng tên Hoàng Tử Cảnh) sang kinh lược nước Chân Lạp cho nên lưu dân Việt Nam kiêng nể đọc trại Cây Cảnh thành Cây Kiểng.
Lối chơi cây kiểng trong dân gian dưới triều Nguyễn cũng bị hạn chế rất nhiều.
. Vua chơi cây thông, cây tùng.
. Bậc Vương Hầu chơi cây trắc bá.
. Bậc Đại Thần chơi cây dương, cây bồ hòn .
. Nho Sĩ Trí Thức chơi cây
. Dân Dã chơi cây sim, me, tràm, chổi .
Uốn cây kiểng ngọn cây phải chúc xuống gọi là hồi đầu, cây kiểng không được để ngọn chỉa thẳng lên trời, sợ phạm thượng . Hình những loại thú linh Long Lân Phụng chỉ để trang trí trong cung đình .
Ngày nay, nghệ thuật Cây Cảnh và Hòn Non Bộ không còn bị giới hạn cho bất cứ một giai cấp nào mà nó đã phổ biến lan rộng khắp mọi nơi công cộng đền chùa, nhà thờ, những cơ quan chánh phủ, trong dân gian Việt Nam và hiện đang được phương Tây rất ưa chuộng.
Phan Văn Lít
1. Trần Trọng San và Trần Trọng Tuyên, Hán Việt Từ Điển, Canada, 1997.
2. Anthony Trần Văn Kiệm, giúp đọc Nôm và Hán Việt, nhà in LiviKo's. Texas, 1997.
3. Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, nhà in Văn Hữu, Gia định Việt Nam 1974.
4. Phan Quỳnh, Non Bộ Trong Lịch Sử Việt Nam, Nhật báo người Việt, Wesminster, California, USA, tháng Năm - 1996, no. 3808
5. Nguyễn Văn Trò và Dương Tranh Lam, Di Tích và Thắng Cảnh Hoa Lư, huyện Hoa Lư, Việt Nam 1997.
6. Trần Quốc Vượng, Việt Sử Lược, Hà Nội, Việt Nam, 1960.
7. Ma Văn Cao, Lĩnh Nam Dật Sử, Trần Nhật Xuân chuyển dịch sang Hán Văn và Bùi Đàm chuyển dịch sang Việt Văn, Sài Gòn, Viêt Nam 1968 trang 101 - 102.
8. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II, Hà Nội, Việt Nam 1993, trang 166.
9. Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển I và II Đại Nam, Glandale, California, 1976.
10. Huỳnh Văn Thới, Kiển Cổ và Chậu Xưa, Việt Nam, 1996.
11. Lê Hữu Kiệt, Nguyễn Văn Ươu, Lê Văn Niệm, Phan Văn Nhứt, Kỹ Thuật Uốn Kiển Gốc, bảng in Roneo, Kiến Hòa, Việt Nam, 1973.
12. Hải Thượng Lãn Ông, Phan Võ dịch, Thượng Kinh Ký Sự, Văn Học, Hà Nội, VN, 1971, tr. 37
13. Phạm Đình Hổ, Nguyễn Hữu Tiến dịch, Vũ Trung Tùy Bút, Trẻ, VN, 1987, tr 12-13
14. Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, Đạm Nguyên dịch, Tang Thương Ngẫu Lục, Đại Nam, USA, 1970, tr 28-29
15. Toan Ánh, Các Thú Tiêu Khiển Việt Nam, Mũi Cà Mau VN, 1993, tr 79
16. Craig Coussins, The Bonsai School, Silverdale Book, UK 2002
17. Phan Văn Lít, Lew Buller, Mountains In The Sea, Timber Press,
18. Phan Van Lit, philip Tacktill, Janett Wanerka, Hòn Non Bộ "The Vietname MinitureLandcape Art" (Expanding the Horizon from East to West) - (Sách chưa phát hành)
-0-0-0-0-0-
Monsieur ARMAND, France chuyển dịch sang Pháp Ngữ
HÒN NON BỘ
(Montagnes Dans La Mer)
Phan Văn Lít

Retour au Far West

Arrivage du printemps
Jardins en miniature d'art Vietnamien
(Little Saigon)
LTS: M. Phan Văn Lít est l’ artiste du bonsaï et »Hòn non bộ » . Il a travaillé pour la ville de San Diego, spécialisé dans le soin et la préservation des plantes dans le Balboa Park (Parc botanique). Aujourd’hui à la retraite.
1986-1987-1988 il a été primé de médaille d'honneur des États-Unis par le Cactus & Sucuslent (Honor Prize Eccellence de l'Arboretum, Arcadia, Los Angeles, Exposition Nationale).
Il a été aussi cité par le journal américain (San Diego Union Tribune),la revue internationale Bonsai, ; les journaux vietnamiens et américains ont publié à plusieurs reprises ses écrits sur les "Hòn Non Bộ" et bonsaï.
Il a été co-auteur avec M. Lew Buller, parrainés par l’éditeur Timber pour publier le livre «Montagnes Dans La Mer: L'Art Vietnamien de Hòn Non Bộ".
Il a été le premier vietnamien à être invité de La Conférence internationale de BonSai pour présenter un exposé sur le « Hòn non bộ » qui a eu lieu et organisé par la ville de Rochester d’état de NewYork en septembre 2000.
Signification des termes Hòn Non Bộ
Le Vietnam a actuellement quatre termes: Des Fausses montagnes, des rocailles, des petites montagnes de pierre et du bonsaï pour désigner comme un passe-temps les constructions des montagnes en pierre, des plantations d'arbres et des rocailles dans un bassin. En regardant l’œuvre: c’était comme une île située entre les rivières, les lacs ou les mers.
« Giả sơn »en sino-vietnamien veut dire de « Fausses montagnes ».
« Non bộ » en écriture « Nôm » (ancienne écriture féodale du Vietnam ) a la même signification que « Giả sơn » donc Fausses montagnes.
« Núi Non bộ » en écriture Nôm est le synonyme des deux termes précédents
« Hòn non » d’après « Đai Nam Quốc Âm Tự Vị »(sorte dictionnaire ) de Paulus Huỳnh Tịnh Của sont aussi des Fausses montagnes en morceaux de pierres pour décorer la terrasse au devant des maisons.
1997, 2002 avec ma femme, je suis retourné au Vietnam et allé au Nord, au Centre et au Sud pour approfondir ces quatre expressions, et le lieu où on conservait encore les « Hòn non bộ » du 10ème siècle. J'ai interviewé le Conservateur des deux temples des rois Đinh Tiên Hoàng et Lê Đại Hành . Le hobby de jeux « Monts en haut , Eaux en bas » a créé le mot « Hòn », de ce fait le terme « Hòn non bộ » est très ancien et le plus significatif. Les trois mots « Hòn non bộ » appartenaient au groupe linguistique d'Asie du Sud qui était un des plus anciens groupes linguistiques établis en Asie du Sud Est Les trois mots « Hòn non bộ »sont écrits avec les caractères de « Nôm », ancienne écriture féodale du Vietnam , mais inexistants en écriture Sino-Vietnamien .
Philosophie de « Hòn Non Bộ »
Des milliers d'années, le peuple vietnamien avait le culte divin comme les dieux des arbres, des montagnes , des rivières, des mers …. Il croyait à l’existence des grottes dans les montagnes où les Dieux ont construit des palais magnifiques, et que quiconque deviendra immortel après y entrer. Avec le temps pour survivre, le peuple devait s’abandonner les montagnes et s’ installer dans les plaines, pour se rappeler les forêts, les montagnes, les rivières, les mers; il a utilisé des morceaux de pierre afin de construire les « Hòn non bộ » pour ses divertissements et ses cultes.
La philosophie japonaise était de tailler le Bonsai en forme triangulaire : le sommet est appelé ciel, les branches les plus basses ont été des terres et les branches du milieu entre les deux ont été des hommes (le Ciel, la Terre et l'Homme). A l'inverse, la philosophie de « Hòn non bộ » le sommet de la montagne, appelé Ciel, qui était la Nature comme la voûte céleste: les nuages, la lune et les étoiles ... etc, et non pas le Paradis. La Pierre (=la Montagne) les Plantes, la Terre, l’Eau sont appelées Terre (Dia) L’ Homme (Humain) était le créateur ou le promeneur autour de "Hòn non bộ" pour contempler ou se divertir .

Histoire de « Hòn Non Bộ »
Il n’existait pas beaucoup de livres sur le «Hòn non bộ ». En outre , nos ancêtres ont souvent transmit par « bouche-à-bouche » que par écrits; ces textes ainsi sont préservés pour toujours par des générations en générations. Plus de 1000 ans d'occupation par les Chinois, après c’était la guerre avec la France, puis avec le Japon, et enfin la guerre civil de 30 ans entre les Vietnamiens nationalistes et communistes ((CộngSản)) ont détruit un grand nombre des œuvres artistiques, y compris des « Hòn non bộ ».
En amont de l’histoire du Vietnam, les Giao Chỉ ( l’appellation des vietnamiens de l’ancien temps), avaient pratiqué le culte des Pierres ,des plantes (arbres) et des eaux. La dynastie de Hùng Vương de plus de 4000 ans a aussi des légendes telles que le bétel, la mythologie d’histoire de Sơn Tinh et Thủy Tinh ( la querelle entre le Roi des montagnes et le Roi des Mers) ont évoqué des liens solides entre les plantes, les pierres et les eaux .A travers les livres « Lĩnh nam chích quái » (Les monstres de Lĩnh nam), » Việt Điện U Linh Tâp » « Quảng châu ký »(, Guangzhou aventures), «Giao châu ngoại vực ký » (aventures extra-muros de Jiaozhou) ont remarqué les attaches profondes entre les arbres (plantes), les roches (pierres) et les eaux. Au Temple du roi Hùng Vương il y a un rocher que le Roi An Dương Vương a fait serment «d’honorer les rois Hùng , de poursuivre l'édification et de défendre le pays."
La coutume d'adorer les arbres, les rochers et les eaux existait encore dans des villages du nord du Vietnam ; dans le Sud on vénérait les Chiens en pierre, les Génies des Grand- arbres DA,(sorte grand arbre comme le Baobad africain) et les Génies des eaux comme Bà Thủy (Déesse des eaux), Hà Bá (génie des eaux) etc… ..
À partir de 207 avant JC au 938 après JC, il y avait des « Hòn Non Bộ » des temples, des pagodes qui sont plusieurs fois restaurés et déplacés qu’on ne pouvait pas savoir leurs âges.


La Dynastie de ĐINH (968 - 979)

Le roi Đinh Tiên Hoàng pacifiait les12 Seigneurs féodaux est couronné Empereur, a fait nommer le pays Đại Cồ Việt (Grand Việt), s’est installé à Hoa Lư (actuel Commune de Trường-Yên, district de Hoa Lư, province de Ninh Bình). Les Rois Hùng fondaient le royaume , le Roi Đinh Tiên Hoàng a renforcé l'indépendance et la souveraineté nationale. Quand le Roi est décédé, le peuple l’a apprécié en édifiant un temple en son honneur. Devant le Temple c’était le parc floral : à gauche, un « Hòn non bộ« représentait un tableau « Cửu Long tranh châu » (Les Neuf Dragons jouaient avec une boule en jade; à savoir le terme Neuf Dragons symbolise les neuf vies du Roi et la boule est l’univers). A droite, un « Hòn non bộ » représentait un tableau « Hình Nhân Bái Tướng » (L’Homme priait le Ciel, l’Homme ici représentait Le Roi) pour avoir de la pluie, le beau temps, de bonnes récoltes car le Vietnam était toujours un pays agricole. Le Hòn Non Bộ "Neuf Dragons " est construit dans un bassin hexagonal. Le Hòn Non Bộ "Homme prié" était dans un bassin carré.
La Dynastie de Tiền LÊ (980 - 1009)( 1ère règne de LÊ )

D’une centaine de mètres du Temple du roi ĐINH TIÊN HOÀNG se trouvait le Temple du roi LÊ ĐẠI HÀNH. Devant la grande porte de Từ Vũ édifiait un « Hòn non bộ » monolithe en granit représentait « La danse du Phénix » (Phượng Vũ). Le Phénix était aussi le symbole de la Reine (ou l'impératrice); Issue du nord, on voyait, comme une danse du Phénix, issue du sud-ouest, comme une dance du lion .Aux pieds de la montagne édifiaient les quatre animaux mystiques: le Dragon, la Licorne, la Torture, le Phénix. (Long, Lân, Quy, Phượng). Le « Hòn non bộ » est construit dans un bassin hexagonal et aux flancs des montagnes plantaient des arbres Gừa. Devant les portes des deux miradors avaient aussi les « Hòn non bộ » de formes « Phénix dansant » (Phượng vũ) et « Phenix couvant » (Phượng ấp).
La Dyinastie post LÝ (1011 - 1225) (2ème règne de LÝ)

Avec la propagande du Grand Vénérable » VẠN HẠNH » et l’aide du Général ĐÀO CAM MỘC , « Điện Tiền Chỉ Huy Sứ » (Le Grand Général) LÝ CÔNG UẨN devenait Roi: le roi LÝ THÁI TỔ ( Roi fondateur). Il déplaça la capitale (le trône) de Hoa Lư à Đại La, plus tard, à l’apparition dans le ciel du Dragon d’or au côté du navire royal l’Empereur a rebaptisé ĐẠI LA en THĂNG LONG ( Dragon montant)
D’après « Việt Nam sử lược » (Histoire du Vietnam) page 78: «Le mois de Juin ( mois lunaire), à la date de naissance du Roi, marquait la période climatique « Thiên Thánh » (1028), construisait « Vạn Thế Sơn » (Le mont de Dix Mille Mondes) à Long Trì (Bassin du Dragon) aux 5 sommets, celui au milieu se dressait un tableau nommé « Longivité », dont les deux côtés: droit ou gauche, sont peints des flamants blancs. Les montagnes sont dessinées des déesses dansantes, des oiseaux, des animaux ….. à mi-hauteur de montagne, des dragons balancés, les drapeaux accrochés des bijoux et d’objets précieux … en ordonnant aux acteurs et actrices des troupes de théâtre, des enfants spirituels ( Linh Nhi) d’assumer les animations en jouant de la flûte, de la danse, de chants .. pour égayer la cérémonie.
En ce règne de LÝ, le hobby royal de « Hòn non bộ » se répandait progressivement au peuple. Le roman « Lĩnh Nam Dật Sử » (Histoire romantique à Lĩnh Nam) écrit par Ma Văn Cao dans la langue Mường,(Ethnie des Haut- Plateaux du Nord Vietnam) ; Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (Seigneur TRÂN-N-D) de la dynastie Trần, le préfaçait et traduisait en chinois en 1297. En suite à l’époque contemporain, le sieur Bùi Đàm le faisait transcrire en vietnamien. .. Revenir à l’histoire, Quý Nhi (Héros principal) en entrant dans le parc, il voyait un jardin fleuri adossé au flanc de la montagne il y avait un petit château dont autour étaient poussées des plantes d’agrément et des fleurs, sur la gauche se trouvait un « Hòn non bộ », avec des ruisseaux qui jetaient dans l’étang des eaux limpides et claires comme un miroir; à côté de ce « Hòn non bộ » avait une allée ornée de lauriers roses aux deux bords.
La Dynastie de TRẦN (1225 - 1400)
Après 3 fois envahies par des agresseurs Nguyên Mông (Mongolie), Thăng Long a été dévastée, la cour a obligé les envahisseurs vaincus de dédommagements de la guerre à fournir du bois, des matériels de construction pour restaurer les palais, les châteaux et les parcs…
Selon « Đại Việt Sử Ký Toàn Thư », tome II, page 166, l'auteur Ngô Sĩ Liên a écrit: "A propos de la fin de la dynastie des Trần, en 1363, le roi Trần Dụ Tông a voulu construire un bassin dans le jardin du château de son harem, dans le bassin ont édifié des montagnes en pierre , avec des canaux communicants, l’eau s’évadait des quatre côtés. Sur le bassin on plantait des Tùng (sorte de pin), des bambous et des rares arbres fruitiers; on élevait aussi des oiseaux et des animaux rares .
Le règne de HỒ (1400 - 1427), la dynastie des post- TRẦN (1407 - 1413) et la domination des Ming (1414 - 1427) ( A préciser que le mot MING écrit avec un G ) n’ont pas laissé des essais sur le « Hòn non bộ » .
La Dynastie de Post-LÊ (1428-1788)(Triều Hậu LÊ)
Le 21-8-1406, MING Thánh Tổ, l'empereur fondateur de Ming (Empire de Chine) a ordonné au général Chu Nang, dès son arrivée au Vietnam , de confisquer tous les livres et les ramener à la capitale Kim Lăng, de détruire tous les patrimoines culturels , les œuvres artistiques à l'exception ceux de la Chine et les livres canoniques bouddhistes. Les stèles historiques, des livres et d'autres grandes œuvres d'art, y compris les parcs et »Hòn non bộ » avaient cruellement subi le même sort des agresseurs Ming. Les garçons et les filles ne devaient pas couper les cheveux et obligeaient à porter des chemises courtes et des pantalons longs. C’était la politique d'assimilation ethnique pour but de convertir des Vietnamiens à devenir des Hán (Chinois)..
L'année du Chien (1418), Lê Lợi ( Nom du1er Roi du Post-LÊ), avec l'aide de Nguyễn Trãi soulevait militairement contre les envahisseurs Ming. Après 10 ans de laborieux combats, il chassait les militaires Ming hors du territoire, montait sur le trône et prenait le nom de Lê Thái Tổ ( LÊ le fondateur) et changeait la capitale Thăng Long en Đông Đô (Capitale de l’Est) et l’empire en Đại Việt (Grand Vietnam) (1420). De 1428 - 1527, le Roi rénovait les palais de la capitale ainsi qu’en provinces. Il existait deux œuvres majeures: Đông Đô (ancien Thang Long) et Lam Kinh (Montagne LAM de Thanh Hóa où éclatait le début de la révolution de Lê Lợi contre les Ming). Đông Đô était renommé de son grand parc royal plein de cervidés et d’autres animaux exotiques que les historiens le qualifiaient très magnifique et grandiose que dans le passé...
DE 1527-1592 MẠC ĐĂNG DUNG prenait le pouvoir et fondait la dynastie de MẠC, sous ce règne on n’avait pas de trace des essais sur le « Hòn non bộ ».
Hải Thượng Lãn Ông LÊ HỮU TRÁC ( Le sage Lê Hữu Trác ) (1720 - 1790) écrivait dans Thượng Kinh Ký Sự du gouvernement sur les parcs du seigneur Trịnh Sâm: "En marchant des centaines de marches, traversant plusieurs portes , on arrivait au poste de garde «Hậu Mã Quân Túc Trực » (Poste de cavalerie d’arrière- garde). Le poste a été construit, à côté d'un lac, qui possédait des arbres, des pierres exotiques et étranges .
Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) dans « Vũ Trung Tùy Bút » (Essais de Vu Trung) écrivait « Le Seigneur TRỊNH (TRỊNH SÂM),vers l’an Chèvre Ất Mùi 1774-1775 ordonnait à ses sujets de chercher «Du bois précieux, des pierres rares et de belles fleurs dans le royaume….qu’au palais, selon des endroits, construisaient des œuvres de « Hòn non bộ ».
Phạm Đình Hổ et Nguyễn An ont écrit dans « Tang thương Ngẫu Lục » d’une ancienne histoire racontée par un ancien Chef de garde du palais « Juste le jour de pleine lune, Le Seigneur se promenait au Palais du Nord; ce palais avait un bassin appelé Long Trì ( Bassin du dragon) mesuré un demi-mile (810 m); planté plein de fleurs; les lotus, les nénuphars, etc … Le remblai du bassin entassait des pierres pour édifier des fausses montagnes de hauteurs différentes, quelque soit du regard par devant ou par derrière, les vues étaient très magnifiques .. Les « Hòn non bộ » et les paysages dans le Palais du Seigneur TRỊNH sont disparus de nos jours.
La dynastie de Tây Sơn (1788 -1802) n'était pas non plus laissé des traces des « Hòn non bộ »
La dynastie de NGUYỄN (1802 - 1945)

A l’unification du royaume, l’empereur GIA LONG (Fondateur de la dynastie)promulguait des lois relatives à la vie, l'architecture, la culture, les costumes, la peinture, la sculpture ... les passe-temps des paysages et le « Hòn non bộ ».
Le nom commun Cây Cảnh (Paysage) a été longtemps existé mais ce nom a été dévié en Cây Kiểng (Plante d’ornement) car le nom CẢNH a été le homonyme du Prince héritier du royaume. Selon une légende qu’en 1698, le Seigneur Nguyễn Phúc Chu envoyait le Général en chef (Chưởng Cơ) Nguyễn Hữu Cảnh ( Au règne de GIA LONG il devait changer en NGUYỄN HỮU KỈNH car son ancien prénom CẢNH était le homonyme du Prince héritier) pour superviser le royaume de CHÂN LẠP, pays sous le protectorat du Vietnam, les vietnamiens exilés, pour prouver du respect envers Le Général, appelaient « Cây Kiểng » au lieu de « Cây Cảnh ».
.Les plaisirs de l’ adoration des paysages étaient beaucoup plus restreints sous la dynastie de NGUYỄN.
Les dictons :
« L’empereur adorait des sapins ,des conifères ,
« .Les Seigneurs préféraient des thuyas ,
« Les Mandarins : des peupliers, des longanes amères (Trái Bồ Hòn)
« Les lettrés : des figuiers ,des styrax , « Le peuple : des myrtes, des tamarins ,des cajeputs ,des backées « … Pour préparer une plante d’ornement, la tige devait être inclinée vers le bas, c’était la soumission , elle ne pouvait pas être redressée vers le Ciel, car c’était le blasphème. Les images des animaux mystiques comme le Dragon, la Licorne , la Tortue, le Phénix (Long, Lân, Quy, Phụng) réservaient spécialement pour décorer les Palais.
Aujourd'hui, l'art du bonsaï et le « Hòn non bộ » étaient très répandus dans les souches de la population, les temples , les pagodes, les églises, les autels des ancêtres, les organismes gouvernementaux, le public et très appréciés par les occidentaux .
Phan Van Lít

CÁC SÁCH THAM KHẢO
1. Trần Trọng San và Trần Trọng Tuyên, Hán Việt Từ Điển, Canada, 1997.
2. Anthony Trần Văn Kiệm, giúp đọc Nôm và Hán Việt, nhà in LiviKo's. Texas, 1997.
3. Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, nhà in Văn Hữu, Gia định Việt Nam 1974.
4. Phan Quỳnh, Non Bộ Trong Lịch Sử Việt Nam, Nhật báo người Việt, Wesminster, California, USA, tháng Năm - 1996, no. 3808
5. Nguyễn Văn Trò và Dương Tranh Lam, Di Tích và Thắng Cảnh Hoa Lư, huyện Hoa Lư, Việt Nam 1997.
6. Trần Quốc Vượng, Việt Sử Lược, Hà Nội, Việt Nam, 1960.
7. Ma Văn Cao, Lĩnh Nam Dật Sử, Trần Nhật Xuân chuyển dịch sang Hán Văn và Bùi Đàm chuyển dịch sang Việt Văn, Sài Gòn, Viêt Nam 1968 trang 101 - 102.
8. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II, Hà Nội, Việt Nam 1993, trang 166.
9. Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển I và II Đại Nam, Glandale, California, 1976.
10. Huỳnh Văn Thới, Kiển Cổ và Chậu Xưa, Việt Nam, 1996.
11. Lê Hữu Kiệt, Nguyễn Văn Ươu, Lê Văn Niệm, Phan Văn Nhứt, Kỹ Thuật Uốn Kiển Gốc, bảng in Roneo, Kiến Hòa, Việt Nam, 1973.
12. Hải Thượng Lãn Ông, Phan Võ dịch, Thượng Kinh Ký Sự, Văn Học, Hà Nội, VN, 1971, tr. 37
13. Phạm Đình Hổ, Nguyễn Hữu Tiến dịch, Vũ Trung Tùy Bút, Trẻ, VN, 1987, tr 12-13
14. Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, Đạm Nguyên dịch, Tang Thương Ngẫu Lục, Đại Nam, USA, 1970, tr 28-29
15. Toan Ánh, Các Thú Tiêu Khiển Việt Nam, Mũi Cà Mau VN, 1993, tr 79
16. Craig Coussins, The Bonsai School, Silverdale Book, UK 2002
17. Phan Văn Lít, Lew Buller, Mountains In The Sea, Timber Press, Oregon, USA, 2001
18. Phan Van Lit, philip Tacktill, Janett Wanerka, Hòn Non Bộ "The Vietname MinitureLandcape Art" (Expanding the Horizon from East to West) - (Sách chưa phát hành)



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét